Đánh giá trình độ công nghệ ngành chế biến khoáng sản kim loại tỉnh Cao Bằng

Kỹ sư Ngô Ngọc Định
Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim.
 
Đánh giá trình độ công nghệ là quá trình xem xét, phân tích nhằm chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của các thành phần hoặc tổng thể công nghệ của một doanh nghiệp hoặc một ngành công nghiệp. Sau khi đánh giá, doanh nghiệp sẽ thấy được thực trạng trình độ công nghệ: mặt mạnh, yếu của đơn vị mình và từ đó, đề ra giải pháp thích hợp đổi mới công nghệ tạo động lực phát triển sản xuất; có doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ theo hướng tự động hóa dây chuyền thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao hoặc có doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo lại đội ngũ kỹ thuật, quản lý và tiếp thị… Từ đó sẽ xuất hiện các nhu cầu công nghệ. Cũng trên cơ sở kết quả đánh giá trình độ công nghệ, các cơ quan quản lý Nhà nước thấy được thực trạng công nghệ của phạm vi quản lý sẽ có những kế hoạch, quyết sách cho việc chỉ đạo phù hợp.

Tỉnh Cao Bằng nằm ở miền Bắc Việt Nam. Tài nguyên khoáng sản kim loại của Cao Bằng rất phong phú, chủ yếu có mangan, thiếc, sắt, đồng, bauxit, chì, kẽm... Trong thời gian vừa qua trên địa bàn Cao Bằng đã có những phát triển rất mạnh về chế biến khoáng sản kim loại với hàng loạt nhà máy được xây dựng như luyện gang thép, hợp kim ferro, luyện chì, thiếc... Sự phát triển mạnh mẽ đó cần một sự đánh giá sát thực về trình độ để có thể định hướng việc lựa chọn công nghệ cũng như đầu tư, quản lý, khai thác tài nguyên khoáng sản được hợp lý. Từ sự nhìn nhận như vậy, tỉnh Cao Bằng đã quyết định tiến hành nghiên cứu đánh giá trình độ công nghệ ngành chế biến khoáng sản kim loại được thực hiện với sự phối hợp Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim. Đề tài do Kỹ sư Ngô Ngọc Định, Trưởng phòng Công nghệ Luyện kim chủ trì thực hiện, đánh giá theo phương pháp ATLAS công nghệ.

Hiện có nhiều phương pháp đánh giá trình độ công nghệ được đề xuất và áp dụng trên thế giới. Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm khác nhau với những ứng dụng khác nhau. Phương pháp phân tích đánh giá hàm lượng công nghệ được áp dụng trong đề tài tập trung vào việc định lượng mức độ đóng góp của bốn thành phần T-H-I-O theo phương pháp luận Atlas công nghệ của APCTT.

Việc đánh giá trình độ công nghệ theo phương pháp này thể hiện rằng coi công nghệ là sự kết hợp của cả công cụ lao động và bí quyết có liên quan để chế tạo, sử dụng công cụ đó. Từ quan điểm đó có thể phân lập công nghệ thành 4 hình thức biểu hiện cụ thể:
 
-Thành phần Kỹ thuật của công nghệ (T)
-Thành phần Con người của công nghệ (H)
-Thành phần Thông tin của công nghệ (I)
-Thành phần Tổ chức của công nghệ (O)

Các thành phần trên được đánh giá bằng các giá trị cụ thể khi xét đến sự góp phần của công nghệ làm tăng hiệu quả của quá trình chuyển đổi công nghệ.

Các nghiên cứu đã đưa ra được các kết quả định lượng giá trị hàm lượng công nghệ chế biến khoáng sản Cao Bằng:
 

TT

Ngành sản xuất

λ

Các thành phần công nghệ

VA

(triệu)

TCA

(triệu)

T

H

I

O

TCC

1

Luyện gang thép

0,42

0,22

0,54

0,42

0,55

0,28

 

 

2

Luyện hợp kim fero

0,44

0,41

0,51

0,40

0,56

0,43

 

 

3

Luyện thiếc

0,43

0,32

0,45

0,46

0,28

0,35

 

 

4

Luyện chì

0,43

0,36

0,52

0,44

0,56

0,32

 

 

5

Sản xuất than cốc

0,44

0,66

0,55

0,50

0,32

0,59

 

 

 
Từ các kết quả trên có các kết luận sau:

1. Chế biến khoáng sản kim loại của tỉnh Cao Bằng đã phát triển với tốc độ cao trong một vài năm gần đây và đã hình thành một ngành công nghiệp luyện kim tương đối lớn.

2. Trình độ công nghệ của công nghiệp luyện kim Cao Bằng nói chung ở mức độ trung bình và thấp. Trình độ công nghệ không đều giữa các lĩnh vực và các đơn vị. Chất lượng sản phẩm chưa cao và ít chủng loại.

3. Hàm lượng nhập khẩu đầu vào còn lớn. Cụ thể đối với thiết bị 90 ÷ 95 %; Than cốc cho luyện gang > 90%; Than cốc cho luyện fero, thiếc và chì 40 ÷ 50 %; Vật liệu chịu lửa: 50 ÷ 60 %... Điều này cho thấy phụ thuộc nhiều vào bên ngoài, gặp khó khăn khi thị trường thế giới biến động.

4. Hàm lượng xuất khẩu đầu ra: gang đúc, feromangan có thể được tiêu thụ trong nước một khối lượng đáng kể, phần còn lại gang, feromangan và hầu hết các sản phẩm thiếc, chì kim loại được xuất khẩu.

5. Việc đổi mới công nghệ được quan tâm với mức độ khác nhau ở các đơn vị, nói chung chưa được đầu tư thích đáng vào vấn đề quan trọng này. Nguồn cung cấp công nghệ còn nhiều bất cập. Các đơn vị chưa có đủ trang thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ trình độ cao và kinh phí cho việc nghiên cứu phát triển còn thiếu./.

Đối tác
MO MIEN NAM
Vimluki
cie
Bộ Công thương
Doi tac 5